Điều hòa nước và điện giải bằng cơ chế nào

Thảo luận trong 'Thể thao, dã ngoại' bắt đầu bởi thanhbui93, 21/7/22.

  1. thanhbui93

    thanhbui93 Expired VIP

    Nguồn chủ đề
    • Âm thanh (0)
    • Bảng (0)
    • dụng cụ tính toán lâm sàng (0)
    • Hình ảnh (1)
    • rà soát phòng thí nghiệm (0)
    • Mô hình 3D (0)
    • Video (0)
    Thể tích dịch cơ thể và nồng độ chất điện giải thường xuyên được duy trì trong các giới hạn rất hẹp mặc dù có sự khác biệt khá lớn trong thức ăn nhập vào, hoạt động đàm luận chất và môi trường. Chuyển hóa của chất dịch cơ thể được duy trì chủ yếu bằng thận.
    Cân bởi muối và nước phụ thuộc lẫn nhau. Tổng lượng nước trong cơ thể (TBW) khoảng 60% trọng lượng cơ thể ở nam giới (từ khoảng 50% ở người béo phì tới 70% tại người gầy) và khoảng 50% tại phụ nữ. Gần 2 phần ba của TBW nằm trong khoang nội bào (chất dịch trong tế bào, hay ICF); một phần ba khác là ngoại bào (dịch ngoại bào, hay ECF). Thông thường xuyên, khoảng 25% ECF nằm trong khoang nội mạch; 75% còn lại là dịch kẽ (xem hình Ngăn chứa đựng chất lỏng ở một người đàn ông 70 kg trung bình).
    Lượng dịch trong 1 người đàn ông trung bình 70-kg.

    Tổng lượng nước cơ thể = 70 kg × 0,60 =42 L.
    [​IMG]
    Cation nội bào chủ yếu là kali. Cation ngoại bào chủ yếu là natri. Nồng độ cation trong tế bào và ngoài tế bào như sau:
    Lực thẩm thấu

    Nồng độ các chất hòa tan kết hợp trong nước là tính thẩm thấu (lượng chất hòa tan trên mỗi L dung dịch), trong dịch cơ thể, tương tự như độ thẩm thấu (số lượng chất tan trên mỗi kg dung dịch). Độ thẩm thấu máu có thể được đo trong phòng thí nghiệm hoặc ước tính theo công thức
    Áp lực thẩm thấu máu (mOsm/kg) =
    [​IMG]
    Nồng độ natri huyết thanh được tính bằng mEq/L, và glucose và BUN được tính bằng mg/dL. Áp lực thẩm thấu của dịch cơ thể thường là từ 275 đến 290 mOsm/kg. Natri là yếu tố quyết định chính của áp lực thẩm thấu máu. Sự thay đổi kết quả áp lực thẩm thấu máu có thể là kết quả của những sai sót trong đo nồng độ natri (có thể xảy ra tại các bệnh nhân bị tăng lipid máu hay tăng protein máu vì protein hay lipid chiếm không gian trong thể tích huyết thanh lúc phân tích, nồng độ natri huyết thanh bản thân nó không bị tác động. Những cách thức mới hơn để đo điện giải của huyết thanh với các điện tích ion trực tiếp khắc phục vấn đề này. Một khoảng trống thẩm thấu xuất hiện khi đo áp lực thẩm thấu vượt quá áp lực thẩm thấu ước tính ≥ 10 mOsm/kg. Nó được gây ra bởi xuất hiện những chất hoạt động thẩm thấu không đo được trong huyết tương. Thông dụng nhất là các chất cồn (ethanol, methanol, isopropanol, ethylene glycol), mannitol, và glycine.
    Nước đi qua màng tế bào tự do từ các vùng có nồng độ chất hòa tan rất thấp đến các vùng có nồng độ chất hòa tan cao. Bởi vậy, áp lực thẩm thấu có khuynh hướng cân bằng qua những khoang dịch cơ thể khác nhau, chủ yếu do sự di chuyển của nước chứ không phải chất tan. Những chất tan như urê tự do khuếch tán qua màng tế bào nên có ít hoặc không có ảnh hưởng đến trao đổi nước (ít hoặc không có hoạt động thẩm thấu), trong lúc những chất tan được giảm thiểu chủ yếu tại một khoang chứa chất lỏng, như natri và kali, có tính thẩm thấu lớn nhất.
    Độ tinh khiết, hay tính hiệu quả thẩm thấu phản ánh hoạt tính thẩm thấu và lực hút nước qua khoang dịch (lực thẩm thấu). Áp lực thẩm thấu có thể chống lại các lực khác. Ví dụ, các protein huyết tương có một hiệu quả thẩm thấu nhỏ có xu hướng hút nước vào huyết tương; hiệu quả thẩm thấu này thường bị chống lại bằng các lực thủy tĩnh trong lòng mạch- có tác dụng đẩy nước ra khỏi huyết tương.
    Nhập và bài tiết nước

    Trung bình lượng dịch uống hàng ngày vào khoảng 2,5 L. Lượng cần thiết để bù vào lượng mất từ nước tiểu và những nguồn khác là khoảng 1 đến một,5 L/ngày ở người lớn khỏe mạnh. Tuy nhiên, trên cơ sở ngắn hạn, một thanh niên trẻ trung bình có chức năng thận bình thường xuyên có thể uống ít nhất 200 mL nước mỗi ngày để bài tiết chất thải nitơ và những chất thải khác do công đoạn đàm luận chất tế bào. Cần rất nhiều hơn tại những người bị suy giảm khả năng cô đặc nước tiểu. Khả năng cô đặc nước tiểu mất trong
    • Người già
    • Người có đái tháo nhạt, một vài tổn thương thận, tăng calci huyết, hạn chế muối rất nghiêm trọng, mất nước mãn tính, hay tăng kali huyết.
    • những người uống ethanol, phenytoin, lithium, demeclocycline, hay amphotericin B
    • những người có sử dụng lợi ích liệu thẩm thấu (ví dụ, do chế độ ăn giàu chất đạm hoặc tăng đường huyết)
    Mất nước bắt buộc khác chủ yếu là mất qua phổi và da, bình quân từ 0,4 đến 0,5 mL/kg/h hay khoảng 650 tới 850 mL/ngày ở người lớn 70 kg. Với sốt, cho mỗi độ C tại nhiệt độ cao hơn bình thường xuyên có thể mất từ 50 tới 75 mL/ngày. Mất qua đường tiêu hóa thường xuyên không đáng kể, trừ lúc có nôn, tiêu chảy, hoặc cả hai. Mất mồ hôi có thể là đáng kể trong khoảng thời gian tiếp cận với môi trường nóng hoặc tập thể dục quá mức.
    Lượng nước uống được điều hòa bằng khát. Khát được gây ra bởi các thụ thể trong mặt trước bên vùng dưới đồi, đáp ứng với sự tăng áp lực thẩm thấu huyết tương (chỉ khoảng 2%) hoặc giảm xuống thể tích dịch cơ thể. Hiếm lúc rối loạn chức năng vùng dưới dưới đồi sẽ làm giảm xuống khả năng khát.
    Nước bài tiết qua thận được điều chỉnh chủ yếu bởi vasopressin (ADH). Vasopressin được giải phóng từ thùy sau tuyến yên sau và kết quả là tăng tái hấp thu nước trong ống lượn xa. Sự giải phòng Vasopressin được kích rất thích bằng một trong số những điều sau đây:
    • Tăng áp lực thẩm thấu huyết tương
    • giảm xuống thể tích máu
    • giảm huyết áp
    • Căng thẳng
    Vasopressin giải phóng có thể bị suy giảm bởi một vài chất nhất mực (ví dụ ethanol, phenytoin), do những khối u hay các rối loạn thâm nhiễm ảnh hưởng đến thùy sau tuyến yên và do chấn thương não. Trong nhiều trường hợp, một nguyên nhân cụ thể không thể được xác định.
    Uống nước làm giảm áp lực thẩm thấu huyết tương. Áp lực thẩm thấu huyết tương không quá cao ức chế bài tiết vasopressin, cho phép thận tạo ra nước tiểu pha loãng. Khả năng pha loãng của thận khỏe mạnh tại người trưởng thành trẻ tuổi tương đương lượng nước uống tối đa hằng ngày có thể lên đến 25 L; lượng lớn hơn mau chóng làm giảm áp lực thẩm thấu huyết tương.
     

Chia sẻ trang này